DANH MỤC BÀI ĐĂNG

Chủ Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2011

Cảnh giác với thuật chiêu hồn ( THÔI MIÊN HỌC)

THÔI MIÊN LÀ GÌ ?

Không chỉ đột nhập vào nhà để trộm cắp, hiện giờ gần giáp Tết âm lịch, các băng nhóm sẽ lộng hành tiếp cận người đi đường để bắt chuyện khiến nạn nhân không còn tỉnh táo và ra tay đoạt tài sản. Đó là dùng “thuật thôi miên” để cướp đoạt hiện vật – hiện kim trên người các nạn  nhân.
Như vào tối 10/12/2010, chị Võ Thị H… (ngụ quận Bình Thạnh) đang chạy xe máy đến gần ngã tư Hàng Xanh, bỗng có một phụ nữ xin đi nhờ một đoạn. Ngồi sau xe, chị ta nói đủ thứ chuyện. Khi phụ nữ này xuống xe, một lát sau, chị H… mới tỉnh táo và phát hiện mình đã bị mất chiếc điện thoại di động trong túi quần.
Như ảo thuật
Trước đó, tối 7/12, anh Nguyễn Văn S… (ngụ quận Tân Bình) đi bộ trên đường Trường Sơn, khi đến gần công viên Hoàng Văn Thụ thì có hai phụ nữ tới hỏi đường. Họ hỏi đi hỏi lại rồi một người đập nhẹ vào vai anh S… Khi hai phụ nữ bỏ đi một đoạn, anh này mới tỉnh lại và phát hiện mình đã bị mất bóp tiền, trong đó có hơn 4 triệu đồng. Anh S.. cho biết sau khi bị đập tay lên vai, anh không nhớ gì nữa và đến giờ cũng không thể lý giải vì sao như vậy.

Còn anh Nguyễn Mạnh T…, bán hàng ở đường 154 ấp Cây Dầu, Q.9, cho biết : “Lợi dụng tôi đi lấy hàng, 2 phụ nữ đã vào ki-ốt hỏi mua card điện thoại khi chỉ có vợ tôi ở đó. Hai phụ nữ này nói chuyện rồi không biết làm sao mà sau đó, vợ tôi đã đưa hết tiền trong hộc bàn cho họ. Thấy tôi về, họ liền vội vã lên xe phóng đi. Một lúc sau, vợ tôi mới tỉnh lại”.
Những “nhà ảo thuật” này còn đóng vai người đi bán nhang, vé số, đồ dùng trong gia đình để tiếp cận nạn nhân. “Mới đây, 2 người đàn ông bán thuốc khử trùng đến mời tôi mua. Không biết bằng cách nào mà họ lấy được của tôi 1 triệu đồng và một điện thoại di động. Sau vụ đó, tôi không dám cho người lạ mặt vào nhà nữa”- chị Thủy, ngụ phường 22 – Q. Bình Thạnh, lo lắng.
Tình trạng nêu trên diễn ra trên nhiều tuyến đường, nhiều nhất là khu vực gần sân bay Tân Sơn Nhất, xung quanh công viên Hoàng Văn Thụ đều thuộc quận Tân Bình. Đây là địa điểm có nhiều đối tượng nghiện ngập, gái mại dâm thường xuyên tụ tập thâu đêm suốt sáng.
Mới đây, chị Hồ Thị M… ngụ Q.3, đi trên đường Hoàng Văn Thụ (Q. Tân Bình) đã bị một số người dùng chiêu đập nhẹ vào vai, sau đó phải ngoan ngoãn lột hết nữ trang, tiền, đồng hồ, điện thoại di động đưa cho chúng. “Những đối tượng này ra tay rất táo bạo, ngay cả nơi đông người. Không rõ những người này “thôi miên” thế nào mà tôi không còn tự chủ được nữa, đến khi choàng tỉnh thì họ đã cao chạy xa bay” – chị M… bức xúc nói.
Lấy rồi đòi chuộc lại

Các băng nhóm trộm cắp này thường tụ tập vào đêm khuya, khi đường phố vắng vẻ để dễ dàng ra tay. Chúng thường đóng vai người hỏi đường, xin đi nhờ xe, khi thấy “con mồi” có thể ra tay được thì bám theo. Thậm chí, chúng còn đóng vai người chạy xe ôm rồi chở khách đến một địa điểm vắng người để ra tay.
Anh Nguyễn Văn Đ… ở Q. Phú Nhuận, đã có lần bị một phụ nữ dùng “ảo thuật” lấy hết ví tiền, máy ảnh và giấy tờ tùy thân. Sau đó, khi anh Đ.. đang đi trên đường, có hai thanh niên đi xe máy bám theo và buộc anh đưa 500.000 đồng mới cho chuộc lại giấy tờ. Nhiều nạn nhân khác cũng bị các băng nhóm dàn cảnh lấy hết ví tiền, giấy tờ quan trọng rồi đòi họ chuộc lại với giá cao.
Trao đổi với chúng tôi, một cán bộ Đội 4 – Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội cho biết đã có nhiều nạn nhân đến phản ánh họ bị “thôi miên” và để mất tài sản. Tuy nhiên, có nhiều băng nhóm trộm cắp bị bắt nhưng chưa đối tượng nào khai nhận dùng thủ thuật này. “Không loại trừ đây là một “chiêu” mới mà các băng nhóm trộm cắp đang sử dụng. Hiện chúng tôi đang mở chuyên án, cho một số chiến sĩ trà trộn vào các khu vui chơi, siêu thị và trên các tuyến đường để truy bắt những đối tượng trên”.

Một hình thức ám thị tri thức
Theo thạc sĩ Nguyễn Ngọc Quang, Giám đốc Trung tâm Giám định Pháp y – Tâm thần, những kẻ đoạt tài sản như nêu trên đã sử dụng hình thức ám thị tri thức, dân gian gọi nôm na là “thôi miên”.
“Đây là một hiện tượng phân tâm, ám thị tri thức khiến bộ não người ở trong trạng thái mất ý thức, thay đổi ý thức, quên đi thực tại trong thời gian ngắn. Nạn nhân phải thực hiện hành vi theo sự điều khiển của người khác, sau đó trở lại bình thường” - ông Quang giải thích.
Theo ông Quang, ám thị tri thức là một thủ thuật rất phức tạp, không phải ai cũng thực hiện được. Nó không phụ thuộc vào yếu tố trình độ, học thức nhưng phải những người trong “nghề” mới làm được. “Ám thị tri thức đòi hỏi có một khoảng thời gian và không gian thích hợp thì mới phát huy được tác dụng. Thời gian dễ bị ám thị tri thức nhất là vào sáng sớm, trưa và chiều tối”.
T.Đồng (Theo Người Lao Động)

Nghệ thuật “Thôi miên”

Giáo sư Charcot nổi tiếng về những cuộc biểu diễn với những người phụ nữ bị kích động mạnh về cảm xúc trong những buổi giảng của mình ở bệnh viện Salpêtrière. Người đàn bà trong ảnh là bệnh nhân được ông quan tâm nhất. Nhà tâm thần học này ủng hộ việc sử dụng thôi miên như là một phương pháp để trị chứng rối loại cảm xúc.
Các tài liệu nói về “Thôi miên” : Đây là một quá trình mà trong đó các chức năng suy nghĩ có ý thức của đầu óc bị qua mặt và một dạng suy nghĩ cảm nhận có chọn lọc được thiết lập. Mặc dù có một số người trải qua kinh nghiệm về sự thay đổi trạng thái của nhận thức và dễ bị thuyết phục hơn, điều này không đúng cho tất cả mọi người. Thực ra, một số dấu hiệu của sự thôi miên và sự thay đổi khách quan có thể đạt được mà không cần sự nghỉ ngơi hay một quá trình thôi miên lâu dài, một điều làm tăng tính nghi ngờ và nhiều sự hiểu lầm về thôi miên và trạng thái bị thôi miên.
Lịch sử : Thôi miên có một lịch sử lâu đời, được biết đến từ những năm 1700 trở lại đây. Người đầu tiên phát hiện ra thôi miên là Franz Anton Mesmer, một bác sĩ người Áo  sống ở thế kỷ 18 đã sử dụng công năng của thôi miên để chữa bệnh. Điều này đã mang lại cho ông nhiều tai tiếng nhưng sau đó người ta vẫn sử dụng cách thôi miên của ông.
Thuật ngữ thôi miên (hypnosis) được đặt tên bởi bác sĩ người Xcôt-len (Scottish), James Braid, ông đã sử dụng từ ngủ trong tiếng Hy lạp để tạo nên thuật ngữ. Braid đã nghĩ có thể sử dụng thôi miên trong phẫu thuật, và ông đã đúng đến tận ngày nay nó vẫn được sử dụng bởi nhiều bác sĩ, nha sĩ, nhà tâm lý học. Từ khi nó xuất hiện, thôi miên và những người sử dụng nó là đối tượng cho nhiều nghiên cứu, sự chỉ trích, sự tò mò và huyền bí.
(theo Wikipedia)

NHÂN ĐIỆN VÀ THÔI MIÊN

(Trích trong cuốn Almanach “Thế Giới Tâm Linh”
tác giả Nguyễn Việt, đã xuất bản)
Trong vu thuật còn có nhiều thuật thần bí, nhưng phát sinh ra là dùng để tà mị mọi người rất nhiều. Trong đó có thuật thôi miên hay còn gọi là thuật nhiếp hồn.
Người biết dùng thuật thôi miên phải có đôi mắt sáng hoặc có nhân điện cao, mới có thể khuất phục được người khác. Chúng ta thường thấy một vu sư trước khi thôi miên ai, đôi mắt họ mở to, không chớp, lòng đen trắng lóng lánh, vì rằng họ đang sử dụng đến nhân điện là dùng đôi mắt chiếu tia điện thẳng vào mắt người khác, cùng những lời thì thầm như đọc bùa chú, còn hai bàn tay cứ quơ qua lại trước mặt đối tượng.
Người bị thôi miên sẽ bị cuốn hút vào đôi mắt sáng ấy trong trạng thái mất phương hướng, tinh thần trống rỗng và dễ suy sụp mau lẹ sau những câu nghe như ru ngủ. Đấy là lúc người bị thôi miên mê sảng, mất phần hồn chỉ còn cái xác vô tri thức.
Như đã nói người sử dụng thôi miên phải có nhân điện cao ngoài đôi mắt sáng, muốn phá thôi miên ít nhất người bị thôi miên phải có tần số nhân điện lớn hơn hoặc bằng họ. Hoặc nếu không, là dòng điện Âm chọi lại với dòng điện Dương hay ngược lại sẽ có biến động
Tác giả Michael Halbert trong cuốn “Thần giao cách cảm” cho biết, muốn luyện môn thôi miên phải tập từ nhỏ, có chế độ ăn uống với nhiều chất đạm và những thực phẩm giàu chất kim loại như sắt, kẽm, mangan… vì những chất này sinh ra điện tích trong người mang tần số cao.
Ngoài ra hằng ngày phải ngồi Thiền bất định trong nhiều giờ, đôi mắt phải chăm chú nhìn vào tâm một vật thể không được chớp. Khổ luyện thành công là khi, dùng ánh mắt nhìn vào vật trong một giờ mà không chớp, từ nhân điện mới có thể thôi miên nhiếp hồn đối tượng. Thuật này còn có thể đọc được ý nghĩ trong đầu kẻ khác, tức thực hiện được cả môn “thần giao cách cảm”, còn được gọi là người có “giác quan thứ sáu”.
Trong nhân điện có người tích lũy được điện Âm hay điện Dương; người có điện Dương chỉ nhiếp hồn được người có tần số điện Dương thấp hơn, nếu là nguồn điện Âm chỉ có thể nhiếp hồn được người có dòng nhân điện Âm thấp hơn. Khi điện Dương gặp người mang tính điện Âm cao, sẽ không thể thôi miên được, vì khi Âm Dưong gặp nhau sẽ sinh biến đổi, như dòng điện Âm Dương khi gặp nhau sinh ra cháy nổ.
Với nhân điện, chúng ta thường nghe nói đến những người có biệt tài, chân tay sờ nắn được dòng điện mà không bị giật, hay dùng thân nhiệt đưa 2 dòng điện Âm Dương cho cháy sáng bóng đèn v.v…


Trên đây là thuật dùng nhân điện để thôi miên nhiếp hồn, còn những người biết vu thuật thường biểu hiện trạng thái tự thôi miên và thôi miên người khác mà không qua tập luyện, như người “cầu Thần nhập xác” bằng hình thức như :
1/- Nhảy múa : vào thời đại vua chúa, nhảy múa là bộ phận không thể tách rời trong đời sống cung đình. Nên các thần linh hiển thánh đa số là các ông hoàng, bà chúa, các quan tướng từng sống trong môi trường ấy. Nên nhảy múa được coi là biểu hiện cho tính chất nguyên thủy, đưa các vị Thần Thánh dễ hòa nhập với xác hơn.
Đồng thời nhảy múa theo tiếng nhạc, lời ca sẽ đưa những ông bà đồng bước vào trạng thái như tự bị thôi miên, thần trí mê sảng, có ảo giác qua hiện tượng “thần giao cách cảm” hay “giác quan thứ sáu”, “tự kỷ ám thị”, từ đó não bộ bị hôn mê phấn kích làm dễ dàng bộc lộ sự liên kết giữa người và thần thánh.
2/- Che mặt : người lên đồng có khăn phủ diện, người đồng cốt có quạt hoặc hai tay che lấy mặt, người sa-man giáo khi đánh đồng thiếp thì nhắm nghiền đôi mắt, đầu cúi xuống chờ thần linh giáng vào. Khi thần linh nhập xác, bấy giờ mọi người mới được nhìn rõ mặt.
Đây là phương pháp bước vào thế giới tâm linh, che mặt dùng để tập trung tư tưởng, định thần, không bị phân tâm trước những ánh mắt tò mò của mọi người đang nhìn. Đây cũng thuộc trạng thái để tự thôi miên
Nhảy múa và che mặt là hai điểm chính yếu, khi các ông bà đồng tiến hành việc “cầu Thần nhập xác”, ngoài ra còn có những hình thức biểu hiện khác như :
- Hun khói : tức dùng lửa, dùng nhang đang cháy (thường cả bó nhang) cho có khói bốc to; các dân tộc ít người (như thầy mo trên cao nguyên) dùng cành cây, rễ cây, lá cây chưa khô hẳn, đốt cho có khói thật nhiều. Đây chỉ là tục lệ, vì mọi người cho rằng các thần linh thường hay cuỡi mây bay xuống nhập vào làn khói để nhập xác.
Nhưng thật ra, việc hun khói là cách khiến cho tư tưởng không bị phân tán, do phải chăm chú cách tránh khói cay bay vào mắt, đôi mắt đôi khi phải nhắm lại là lúc họ đang tự thôi miên chính mình.

- Soi gương : trong buổi lễ lên đồng mời Thánh, trước mặt người đánh đồng thiếp đều đặt một cái gương soi. Đây có lẽ cũng theo tục lệ xưa, vì bây giờ gương soi có thể chỉ để nhìn lại cách trang phục có đúng với giá Thánh nhập hay không mà thôi.
Theo tục xưa, vị vu sư dùng gương để tiến hành đánh đồng thiếp (cầu Thần nhập xác), khi đó cho thân chủ ngồi đối diện trước một tấm gương, bên trái đặt 1 chén gạo có cắm 3 cây nhang. Khi cho thân chủ đi vào cõi âm, vị vu sư ra lệnh cho người này tập trung tinh thần đưa mắt nhìn vào tấm gương không chớp mắt, vị vu sư ở phía sau đốt bùa niệm chú rồi nhón tay lấy một ít gạo rải lên gáy thân chủ đang ngồi đồng.
Chỉ một lát người ngồi đồng liền thể hiện trạng thái cưỡi ngựa, chân dẫm chân đạp, miệng bắt đầu kể đường xuống âm phủ, tìm linh hồn người chết ra sao, và đang nói chuyện với linh hồn người chết như thế nào v.v… Đó là cách các vu sư làm người ngồi đồng tự thôi miên chính mình, đi vào trạng thái ảo giác…

BÙA CHÚ

Vào thời Pháp thuộc ở nước ta khám phá trên Thất Sơn có hàng loạt vụ giết người luyện phép, có rất nhiều cô gái còn đồng trinh bị giết chết không do bị hãm hiếp, mà vì các đạo sĩ dùng xác các cô để luyện bùa “thiên linh cái”. Sau năm 1975 chúng ta cũng phát hiện một pháp sư giết hại ba cô gái còn trinh trắng để luyện thứ bùa yêu này.

Vậy bùa “thiên linh cái” có thật sự đúng như lời đồn đại, chỉ cần quyệt nhẹ mùi hương của nó vào người ai, tức thì người đó mất hết tri giác, nghe theo lời không chút phản kháng, như chứng bệnh “liệu” ?
Cũng theo lời đồn, bùa “thiên linh cái” ngoài công dụng bắt đối tượng phải nghe theo người sử dụng, thuộc vào dạng “bùa mê thuốc lú”, nó còn có tác dụng quấy rối tình dục để đối tượng dễ dàng sa ngã vào vòng tay người khác giới hơn nữa là “thôi miên” (theo cách không nói năng nhìn ngó như phần trên giải thích, mà chỉ cần quyệt nhẹ mùi hương vào người đối tượng).

BÙA MÊ THUỐC LÚ

Theo các đạo sĩ chân chính cho biết, có nhiều pháp sư, thầy pháp học được môn bùa này từ các ông Lục thuộc phái thầy tụng (tức thầy cúng, thầy pháp). Những ông Lục này thường được mọi người tán tụng là cao tay ấn biết các thuật nhiếp hồn, gọi hồn người chết về trò chuyện, hay luyện ngải tìm trầm, luyện các loại “bùa Lỗ ban”, loại bùa mê thuốc lú, nhất là môn luyện “thiên linh cái”.
Để luyện nó cần có xác một cô gái còn đồng trinh, trên mộ trồng những cây chuối hột; khi cây chuối đơm hoa kết nải tức bắt đầu thu hoạch được thứ bùa yêu này. Tuy nhiên cách luyện bùa không chỉ dễ dàng như thế, bởi hằng đêm họ phải ra nằm ngủ dưới thân cây chuối, từ khi thân chuối chỉ cao hơn nửa thước cho đến khi thân cây đã trĩu nặng những buồng, những nải.
Trong thời gian nói trên, ngoài việc lập trang thờ nạn nhân, hằng ngày còn cúng cơm ba bữa, ban đêm ra ngủ bên thân chuối, ve vuốt thân cây như ve vuốt người vợ đầu gối tay ấp. Thời gian kéo dài đến lúc các trái chuối đã chín vàng.

Còn từ khi cây chuối trổ hoa, mỗi buổi sáng tinh mơ sương mai còn đọng trên các bông, các quày, họ phải hứng từng giọt sương cho vào lọ. Các trái chuối chín thì bóc lấy hột phơi khô. Nước sương mai hòa cùng dầu thơm để thành “bùa mê thuốc lú”, còn hột được tán nhỏ thành chất kích dục. Họ còn phải chôn dưới đất đủ 49 ngày để mang âm khí, để trên trang thờ đủ 100 ngày cho có dương khí, mỗi đêm cầu thần niệm chú, như thế mới linh ứng.
Còn trong thực tế rất ít người dám luyện “thiên linh cái”, thứ nhất bởi có thể gây ra án mạng nếu không may mắn tìm được xác nữ đồng trinh vừa qua đời, thứ hai ngày đêm phải sống găn bó với ma quỷ; còn giết người lấy xác có thể dẫn đến hậu quả hồn ma báo oán, làm cho tan cửa nát nhà, tù tội, thứ ba trong luyện bùa còn phải biết các câu thần chú để đọc hằng đêm v.v…
Nên nhiều người lấy danh nghĩa là bùa “thiên linh cái” hay những thứ bùa ngải khác, nhưng thực chất là dùng y thuật cổ truyền từ các sách thuốc, như lấy sừng lấy pín và tinh hoàn của dê đực, lấy nhủ hoa của dê cái, hay lấy xương cọp nấu thành cao, giết gấu lấy mật, lấy tay gấu làm thuốc tăng lực.
Vùng Tịnh Biên tỉnh An Giang, người dân còn đi bắt các loại côn trùng như bò cạp, rắn rết, nhền nhện hùm, tắc kè, bổ củi, sống trong mấy gò đất, bụi rậm quanh triền núi bán cho các đạo sĩ đưa về chế thành “bùa mê thuốc lú”.

Bò cạp trị được bệnh yếu sinh lý cho nam giới, bệnh nhức mỏi cho người già, còn nhền nhện hùm hay con rết trị được chứng thấp khớp, đau thần kinh tọa, với trẻ em nhền nhện trị được cả bệnh hen suyễn.
Thứ nào dùng làm thuốc trị bệnh họ ngâm với rượu, còn thứ chế biến “bùa mê thuốc lú”, tùy theo tính chất của mỗi con vật mà khai thác, như hải mả, đuôi bò cạp phơi khô tán nhuyễn cho uống nhằm tăng cường khả năng sinh lý, dùng valium tán với hoa phù dung để có “bùa mê” v.v…

BÁCH NHẬT NGẢI

Nói về ngải như loại “ngậm ngải tìm trầm”, theo tương truyền ở vùng phía nam Trung Bộ nước ta, có loại cây có tên gọi “bách nhật ngải” mọc tự nhiên trong rừng sâu, những người đi rừng cho rằng nếu ngậm được cây “bách nhật ngải” – cây ngải 100 ngày – đi rừng không còn sợ thú dữ, không sợ rừng thiêng nước độc, mắt trông thấu xuống lòng đất, có thể biết nơi nào có trầm hương hay kỳ nam.
Nhưng nếu để quá 100 ngày trong miệng mà không nhả, người sẽ mọc lông, mọc đuôi, thành cọp.

Không có nhận xét nào: